Dịch Vụ ⇢ Điều trị ⇢ Viêm lợi và viêm quanh răng

My photo

Nhiệt miệng là gì?

Loét niêm mạc miệng tái đi tái lại nhiều lần rất hay gặp chúng ta quen gọi lànhiệt miệng”, Về mặt bệnh học tổn thương này thường rơi vào hai bệnh khác nhau là loét Aphtheous (áp-tơ) và viêm miệng do herpes  (ec-pet). Viêm miệng herpes là do virus này gây ra, ngược lại, viêm áp-tơ không có nguyên nhân không rõ ràng. Hai loại viêm miệng này có thể nhầm lẫn do có nhiều triệu chứng giống nhau. Việc xác định nguyên nhân có ý nghĩa quan trọng trong dự phòng và điều trị.
Viêm miệng herpes phổ biến nhất ở lứa tuổi từ 1 đến 3 tuổi (chiếm tới 70%). Điều này là do sự tiếp xúc rộng rãi ở trẻ em trong thời kỳ này và đặc thù của hệ miễn dịch tại chỗ của niêm mạc miệng. Ở lứa tuổi này các kháng thể nhận được từ mẹ đã hết, khi lên bảy đến mười tuổi bệnh chuyển thành dạng tái phát. 
Để virus có thể phát triển thành mụn rộp cần hai điều kiện: sự hiện diện của nó trong máu và hệ thống miễn dịch của vật chủ suy yếu.
Nhiễm virus herpes xảy ra thông thường từ các giọt nhỏ trong không khí, nó có thể được truyền từ mẹ sang con. khi đã mắc bệnh mụn rộp thì virus vĩnh viễn ở lại trong cơ thể, nhưng chúng ta có thể ngăn ngừa sự kích hoạt nhân lên của chúng.
Herpes là loại virus ADN có khoảng 80 gen. Vi rút phát triển bên trong tế bào. Ở ngoại cảnh nhiệt độ 20-25 ℃ nó tồn tại khoảng một ngày-đêm, bị phân hủy sau 30 phút ở 50 ℃. Virus chịu lạnh tốt. có thể tồn tại trên các vật thể kim loại đến hai ngày. Chúng nhạy cảm với tác động của các yếu tố vật lý và hóa học, bị phá hủy dưới tác động của tai cực tím và tia X, cồn ethanol và các chất khử trùng.
Những đặc điểm chính của viêm miệng áp-tơ và viêm miệng herpes như sau:
1-Triệu chứng khởi phát
Viêm áp-tơ: Thấy đau tại vị trí tổn thương mụn rộp, đau có thể ở nhiều mức độ, thông thương tỷ lệ với kích thước tổn thương.
Herpes: Đột ngột rối loạn cảm giác và xúc giác. Sau đó ngứa ran, rát bỏng, đau nhói. Sau 24-48h xuất hiện các mụn rộp. Loét áp-tơ không chuyển tiếp qua các giai đoạn có thể nhận biết cụ thể như herpes. Tuy nhiên, kích thước mụn có thể tăng dần so với phát hiện đầu tiên.
2. Vị trí mụn rộp
Loét áp-tơ: tái phát thường xảy ra trên biểu mô không sừng hóa hoặc các mô mang tuyến. Phổ biến cho các vết loét áp-tơ tái phát bao gồm niêm mạc sàn miệng, hầu họng, ngách tiền đình giữa môi má và xương hàm, rìa phía bên lưỡi. 
Herpes mũi miệng thường xuất hiện trên mô có sừng hóa như đường viền môi, vòm miệng cứng, lợi kèm theo thành xương ổ răng. Các đợt bùng phát herpes tiếp theo thường lặp lại hoặc rất gần vị trí ban đầu. Có thể có herpes trên da kèm theo.
3. Dạng tổn thương khởi đầu
Loét aptheous: thường là mụn loét
Herpes: Thường là dạng mụn nước
4. Dạng tổn thương toàn phát
Áp-tơ: Loét với những ánh đỏ; có khi tổn thương gần giống herpes nhưng vị trí của nó vẫn đặc trưng trên những biểu mô mềm không sừng hóa.
Những vết viêm áp tơ nông, kích thước 0,5-2 cm, thường xuất hiện đơn lẻ, mặc dù có thể 5 cái. Tổn thương ban đầu có thể bắt đầu như một nốt ban đỏ, sau đó có màu trắng, ở trung tâm hoại tử màu vàng hoặc xám được bao quanh bởi một bờ nhẵn, đối xứng, tròn hoặc hình elip.Vết loét khỏi hoàn toàn sau 10-14 ngày kể từ khi khởi phát. Vết loét aphthreous chính thường lớn hơn, tồn tại lâu hơn và có thể thành sẹo khi lành.
Herpes: Những chấm tạo thành một cụm mụn nước nhỏ màu xám-trắng, vỡ để tạo thành các vết loét nhỏ thường có đường kính từ 1 mm trở xuống. Nhiều mụn nhỏ có thể liên kết lại thành một vết loét lớn hơn lên đến 1,5 cm. Trước khi khỏi tổn thương herpes đóng vảy. Vết thương lành trước 8-10 ngày.
5. Số lượng mụn: Áp-tơ có 1 hoặc vài cái, đôi khi có thể nhiều hơn. Herpes có nhiều mụn nhỏ

6. Thời gian tổn thương tồn tại: Ap tơ kéo dài từ 1-2 tuần, Herpes có thể kéo dài lâu hơn từ 1-3 tuần.
7. Nguyên nhân: Áp tơ có nguyên nhân không rõ ràng, liên quan với sự căng thẳng, thiếu hụt dinh dưỡng, chấn thương, nội tiết tố như nồng độ progessterone, thay đổi môi trường ngoại cảnh, tiền sử gia đình
Bệnh herpes do virus gây ra, thường là chủng HRP-1.
8. Sự lây truyền 
Loét áp-tơ không lây.
Herpes có thể truyền sang vật chủ mẫn cảm, đặc biệt là trong các giai đoạn mụn nước và loét.
9. Điều trị
Điều trị chung:
Những bệnh nhân có các đợt bùng phát viêm loét niêm mạc miệng thường xuyên hoặc nghiêm trọng nên khám bác sĩ để nhận được sự tư vấn kiểm tra bệnh có liên quan chẳng hạn bệnh tiểu đường, bệnh vè máu, bênh đường tiêu hóa hoặc bệnh dị ứng.
Khi bệnh nặng người bệnh cần được nghỉ ngơi, cung cấp đủ dinh dưỡng, đa vitamin và khoáng chất.
Giảm các yếu tố nguy cơ như loại bỏ chấn thương tâm lý, tránh các yếu tố gây căng thẳng.
Dùng các dung dịch súc miệng 3-4 lần/ngày (chlorherxidin 2%, furaciclin 1:5000) góp phần làm giảm bội nhiễm, giảm viêm và giảm đau giúp các tổn thương mau lành hơn.
Đối với loét áp-tơ: Các thể nhẹ và tổn thương nhỏ bôi gel steroid như mỡ Kenalog bôi trong miệng (triamcinolone 0,1%). Thể nặng có thể cần dùng corticoide đường tiêm.
Các chế phẩm gel chứa thuốc tê “kamistad” thường bôi vào vùng tổn thương 5 phút trước khi ăn. Sau khi bôi sức miệng sạch để ăn uống dễ dàng hơn. Lưu ý không dùng cho trẻ dưới 12 tuổi.
Đối với mụn Herpes: Đến nay chưa có phương pháp nào loại bỏ hoàn toàn virus trong cơ thể. Do đó, cần xử lý điều trị giai đoạn cấp tính của bệnh bằng các thuốc kháng virus, giảm đau, chống bội nhiễm.
Thuốc kháng virus
Mục tiêu điều trị của thuốc kháng virus là ngăn chặn mầm bệnh phát triển, rút ngắn thời gian tiến triển cấp tính và giảm cường độ của các triệu chứng. Các sản phẩm phổ biến nhất là Acyclovir và Zovirax ở dạng viên nén và kem. Sẽ phải sử dụng thuốc cho một đợt điều trị.
Thuốc có hiệu quả nhất là khi vừa phát hiện triệu chứng đầu tiên. Khi đó người ta có thể sử dụng các thuốc chứa Interferon dạng nhỏ mũi.
Lưu ý không được dùng thuốc chứa corticoid để bôi điều trị herpes, làm như vậy sẽ gây ra tổn thương lan rộng

My photo

Túi lợi - thủ phạm thầm lặng gây rụng răng

Một số người có đáy rãnh lợi sâu tạo thành các túi lợi Đó là một bệnh lý khó chữa. Túi lợi hình thành giữa lợi và răng, có xu hướng ngày càng phát triển sâu hơn có thể gây mất răng.
Điều trị túi lợi mất nhiều thời gian, phức tạp, trường hợp nặng cần can thiệp ngoại khoa.
1.    Các yếu tố nguy cơ
Khe giữa mô lợi và răng bình thường sâu từ 0,2-2 mm, khi vượt quá 3 mm túi lợi sẽ hình thành và phát triển, phá hủy các mô dưới sâu xung quanh chân răng.
1.1.    Vệ sinh răng miệng kém. Cần sử dụng bàn chải, kem đánh răng chất lượng và chải răng đúng kỹ thuật. Nếu không được như vậy thì hình thành mảng bám, cao răng. Nhiễm khuẩn tại chỗ và viêm.
1.2.    Hút thuốc lá. Nicotine và hắc ín tác động tiêu cực đến tình trạng của răng và lợi. Mảng bám và cao răng tích tụ ở cổ răng. Chúng gây viêm lợi. Ngay cả khi đang điều trị nếu hút thuốc vẫn tiếp diễn quá trình viêm vẫn hoạt động, làm chậm quá trình tái tạo mô.Thông thường các quá trình này phát triển ở vùng răng hàm.
1.3.    Sự thay đổi nội tiết tố. Điều này thường thấy ở tuổi vị thành niên, khi mang thai, mãn kinh. Nếu mức độ hormone thay đổi mạnh thì viêm có thể xuất hiện.
1.4.    Ảnh hưởng bên ngoài. Do tác động của hóa chất, căng thẳng và thực phẩm kém chất lượng.
1.5.    Bệnh mãn tính. Các bệnh lý của hệ thống tim mạch, tiêu hóa, miễn dịch, nội tiết ảnh hưởng đến tình trạng của khoang miệng, và có thể dẫn đến tổn thương quanh răng.
1.6.    Bệnh tiểu đường. Đây là một bệnh chuyển hóa toàn thân gây tăng nồng độ glucose trong máu. Ngoài ra, tình trạng bình thường của hệ vi sinh trong khoang miệng bị rối loạn, các dây chằng, xương, lợi bị tổn thương dần do rối loạn hoạt động các vi mạch nuôi dưỡng tổ chức quanh răng.
1.7.    Tác động của một số dược phẩm. Thường xuyên sử dụng thuốc kháng sinh, hormone, thuốc sát trùng và các loại thuốc khác gây ra sâu răng, viêm lợi, viêm quanh răng. Một số loại thuốc gây lợi phì đại và đau làm khóa khan cho việc chải răng.
1.8.    Yếu tố di truyền. Nếu cha mẹ hoặc người thân mắc bệnh viêm quanh răng mãn tính thì khả năng cao mắc bệnh tương tự ở trẻ.
2.    Triệu chứng
Chảy máu ở lợi;
Sưng nề mô quanh răng;
Vùng lợi quanh răng chuyển màu đỏ;
Cảm giác đau khi đánh răng;
Hôi miệng;
Cao răng lắng đọng và mảng bám mềm.
3.    Điều trị
Cần loại bỏ túi lợi bằng các biện pháp bảo tồn và thủ thuật
Các kỹ thuật phẫu thuật loại bỏ túi lợi thường bao gồm những công việc như sau:
Mở túi lợi: Mức độ và vị trí tổn thương có các kỹ thuật khác nhau;
Loại bỏ các mô hoại tử, có thể cả lớp tế bào biểu mô thành túi;
Cạo sạch vùng chân răng, cổ răng;
Rửa sạch bằng dung dịch sát trùng.
Đóng vết mổ, dùng các thuốc kháng khuẩn tại chỗ và toàn thân, vitamin.
4.    Phòng ngừa
Bệnh sinh chủ yếu là các mẩu thức ăn nhỏ tích tụ giữa răng và lợi nên để phòng ngừa thì luôn giữ răng sạch là mấu chốt.

  • Chải răng 2 lần một ngày - vào buổi sáng và buổi tối: Nếu lợi đã viêm cần dùng bàn chải có sợi mềm. Kem chải răng có chất sát trùng.
  • Súc miệng bằng dịch sát trùng có tác dụng tốt: Chúng kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn, rửa sạch các mảnh vụn thức ăn và bình thường hóa môi trường axit. 
  • Một phương pháp phòng ngừa hiệu quả khác là dùng chỉ nha khoa. Chỉ nha khoa làm sạch các vụn thức ăn ở kẽ răng, sâu xuống các túi lợi.
  • Khám và lấy cao răng thường xuyên theo định kỳ.
  • Điều trị sớm, triệt để khi lợi có triệu chứng viêm.

Nha khoa Khánh Vân: P209 Chung cư Học viện Quốc phòng: 0903 289 189

My photo

Mòn cổ răng hình chữ V - nguyên nhân và cách khắc phục

Mòn cổ răng hình chữ V (hình nêm) hay mòn cổ răng do mỏi (abfraction) là tình trạng mất cấu trúc răng nơi tiếp giáp giữa răng và nướu. Tổn thương không liên quan đến sâu răng, vi khuẩn hoặc nhiễm trùng.
Tổn thương có thể gây đọng thức ăn ở hình nêm lộ rõ khi cười tươi.

Triệu chứng:
Mòn cổ răng hình nêm thường không đau, nhưng răng có thể tăng cảm, bị ê buốt răng do nhiệt và lạnh.
Khi tổn thương sâu hơn bạn có thể bị:
Diện mòn rõ và sáng trên răng, thấu quang;
Sứt mẻ mặt răng
Mất men răng hoặc lộ ngà
Theo thời gian, men răng bị mất làm cho răng dễ bị vi khuẩn xâm nhập gây sâu răng. Tính toàn vẹn cấu trúc của răng bị ảnh hưởng, dẫn đến lung lay răng hoặc mất răng.
Nguyên nhân:
Mòn cổ răng hình nêm do răng ở trong trạng thái stress lâu dài có thể liên quan với:
Nghiến răng;
Răng nằm không đúng cung - sai khớp cắn;
Mất khoáng do acid hoặc do các tác nhân gây mòn khác.


Tỷ lệ tiêu cổ răng hình nêm tăng theo tuổi từ 3% ở tuổi 20 đến 17% ở tuổi 70 (Marcell M Nascimento Abfraction lesions: etiology, diagnosis, and treatment options, Clin Cosmet Investig Dent. 2016; 8: 79–87.)
 

Dự phòng và điều trị:

Cần đến khám bác sĩ chuyên khoa để nhận được ý kiến tư vấn tìm các yếu tố nguy cơ có thể là:
Có nghiến răng đêm không;
Rối loạn chế độ ăn;
Ăn quá chua;
Tác dụng phụ gây khô miệng của các thuốc bệnh nhân đang dùng.
Điều trị can thiêp:
Trám vết mòn: Hạn chế sự phát triển tổn thương, khắc phục tình trạng ê buốt, hạn chế nhét thức ăn vào vị trí bị mòn, cải thiện thẩm mỹ;
Chống tác hại của nghiến răng, ví dụ một máng chống nghiến để ngăn ngừa tổn thương thêm cho răng của bạn.
Kem đánh răng chống ê buốt. Kem đánh răng không chữa được răng bị mòn, nhưng một số sản phẩm nhất định có thể giúp giảm độ nhạy cảm và mòn răng.
Chỉnh nha. Điều chỉnh lại khớp cắn ngăn ngừa tổn thương tiến triển trong tương lai, người trẻ tuổi có cung răng không đều, răng mọc không đúng chỗ nên được điều  trị theo  cách này.

Một số phương pháp điều trị mòn cổ răng hình nêm tại Nha khoa Khánh Vân có chi phí như sau:

Khám tư vấn: Miễn phí;

Trám cổ răng 150 000 đồng/răng;

Khí cụ đeo chống nghiến răng 500-1.000.000 đồng;

NIềng răng cho thẳng ở người lớn: từ 20.000.000 đồng/ trọn gói-tùy theo phương pháp 

 

My photo

LẤY CAO RĂNG

Khái niệm về cao răng: Cao răng và mảng bám hình thành từ nước bọt, nếu không được vệ sinh kịp thời sau khi ăn, cao răng sẽ bám vào thân răng và cổ răng gây bệnh lý quanh răng. Nó có màu trắng đục đến đen xỉn ở những người hút thuốc lá.

Trong khoang miệng thường xuyên có các quần thể vi sinh vật nhân lên tạo thành các mảng bám mềm trên răng, nếu không được làm sạch mảng bám mềm sẽ cứng hóa do ngấm các chất khoáng trong nước bọt. Quá trình này diễn ra từ 10-16h sau khi mảng bám hình thành.

Thành phần: Cao răng  có khoảng 10-30% chất hữu cơ và 70-80% chất vô cơ. Chất vô cơ chủ yếu là muối canxi gồm phosphat canxi và cacbonat canxi. Các chất hữu cơ có xác vi khuẩn, bạch cầu, các hợp chất đạm – đường sinh ra từ niêm mạc miệng.

 Các loại cao răng: Bao gồm cao trên lợi và cao dưới lợi

 Cao răng trên lợi: Dễ quan sát bằng mắt thường vì nằm trên lợi có màu sẫm hoặc vàng, dễ lấy

Cao dưới lợi: khó nhìn thấy do bị lợi che khuất, lợi ở chỗ cao răng bám thường tái xanh, phù và dễ chảy máu. Cũng có thể xuất hiện túi mủ, lợi dễ chảy máu.

Nguyên nhân hình thành: Sau khi ăn các thức ăn dư thừa bám trên mặt răng sẽ được vi khuẩn sử dụng, trước hết là các hydrat cacbon. Nếu không được vệ sinh đúng cách thì lượng mảng bám này tăng lên 2 lần chỉ sau một ngày.  Ngoài ra vi còn khuẩn sản sinh ra các enzym đặc biệt để chúng có thể bám vào mặt răng. Những mảng bám mới hình thành khá mềm dễ lấy sạch bằng bàn chải.

Lâu dần các mảng bám mềm sẽ bị khoáng hóa trở nên cứng hơn, sự khoáng hóa mảng bám là do lắng đọng protein và canxi trong nước bọt, quá trình khoáng hóa diễn ra song song với việc tạo các mảng bám vi khuẩn mới. Như vậy cao răng đã được hình thành và phát triển.

Các mảng bám vi khuẩn liên tục tiết ra các độc tố, các chất trung gian hóa học gây viêm lợi. Dấu hiệu dễ thấy của lợi viêm là chảy máu khi chải răng, lợi đổi màu, lợi xanh tái, đau, có mủ quanh các răng bị viêm, răng lung lay.

Sự viêm nhiễm rất quan trọng đối với vi khuẩn, nơi tiếp xúc giữa lợi và răng luôn tiết ra một lượng nhỏ dịch gọi là dịch lợi hay dịch nướu cần thiết cho sự phát triển của vi khuẩn. Khi lợi viêm vi khuẩn nhận được nhiều đạm và muối hơn, sự canxi hóa cao răng nhanh hơn. Như vậy, cao răng dẫn tới viêm lợi, lợi viêm làm cao răng phát triển nhanh hơn-đó là vòng xoắn bệnh lý.

Tóm lại: Cao răng hình thành là do chúng ta vệ sinh chưa đúng, làm gia tăng mảng bám vi khuẩn trên mặt răng tiếp theo là sự canxi hóa các mảng bám mềm làm cho chúng cứng hơn và chúng ta không thể chải đi khi đánh răng.

Biến chứng của cao răng

Viêm lợi (viêm nướu) là tình trạng lợi bị viêm, sưng tấy và chảy máu. Bệnh nhân hơi thở hôi, cao răng, mảng bám, chảy máu khi đánh răng và trong khi ăn. Viêm lợi là do các enzym và độc tố do vi khuẩn gây bệnh có trong mảng bám tiết ra. Khi thăm khám, thấy cao răng, lợi sưng tấy, chảy máu, nhưng không có túi nha chu bệnh lý.
Viêm nha chu: Viêm lợi tiến triển dẫn đến viêm nha chu (viêm quanh răng). Viêm nha chu nặng hơn viêm lợi vì quá trình viêm không chỉ xảy ra ở lợi mà còn viêm mô xương xung quanh răng. Cao răng ở dưới lợi khó làm sạch theo cách thông thường. Viêm nha chu do xương bị tiêu nên hình thành các túi nha chu bệnh lý sâu từ 3-7 mm bên cạnh các triệu chứng viêm lợi. Kiểm tra X-quang cho thấy mô xương bị tiêu ở khu vực vách ngăn kẽ răng.
Nếu không được điều trị, viêm nha chu có thể dẫn đến mất không chỉ mô xương mà còn mất cả răng.
Những mảng bám và cao răng chứa vi khuẩn lâu ngày không chỉ gây viêm nha chu mà còn ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng. Trong một nghiên cứu ở Thụy Điển, được thực hiện từ năm 1985 đến năm 2011, người ta thấy rằng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, chủ yếu là nhồi máu cơ tim tăng lên khi có cao răng ở bệnh nhân (Söder B., Meurman J.H., Söder P.O . Dental calculus is associated with death from heart infarction // Biomed Res Int. — 2014).
Cao răng gây bệnh ở lợi nhưng không gây sâu răng. Trên lâm sàng người ta nhận thấy ở những nơi có mảng bám khoáng hóa thì không có sâu răng.
Cách lấy cao răng:

Lấy cao răng tại phòng nha: Bác  sĩ sẽ lấy các mảng cao cứng bằng máy siêu âm, dụng cụ chuyên dụng. Các mũi lấy cao siêu âm rung với tần số cao sẽ làm cao răng bong ra, nước cuốn trôi mà không làm tổn thương răng. Điều quan trọng là bác sĩ xác định nơi cao bám và kiên trì lấy sạch bằng dụng cụ. Thời gian có thể 20-30 phút hoặc 60 phút. Mỗi người cần đi lấy cao răng mỗi 3-6 tháng 1 lần.

Tại phòng khám bác sĩ sẽ giúp bạn điều trị viêm lợi, viêm quanh răng.

Lấy cao răng tại nhà: Rất khó để chúng ta tự lấy cao răng tại nhà hoàn hảo. Một số biện phát quảng cáo trên mạng xã hội thực sự không nên tin tưởng. Đôi khi chúng có thể làm hư hại men răng và tổ chức lợi.

Những mảng cao răng cứng rất khó để tự lấy sạch. Đối với mảng cao còn mềm có thể lấy bằng bàn chải siêu âm, bàn chải điện, kem đánh răng có chất mài mòn, tăm kẽ, chỉ tơ.

Tại Phòng khám Nha khoa Khánh Vân cao răng đơn giản lấy với giá từ 100 000 -150 000 đồng. TL. 0994099699