Dịch Vụ ⇢ Phẫu thuật ⇢ Nhổ răng

My photo

KHI NÀO CẦN NHỔ RĂNG KHÔN DỰ PHÒNG

Răng hàm cối thứ ba, thường được gọi là răng khôn, có thể mọc ở tuổi thanh niên (18–24 tuổi) mà không gặp bất kỳ vấn đề gì. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chúng không thể mọc vì không vào hàng hoặc bị cản trở bởi các răng khác, bởi nướu hoặc xương hàm. Khi mọc chúng có thể gây biến chứng đén mức cần phẫu thuật loại bỏ.
Phẫu thuật nhổ răng khôn chiếm tỷ lệ cao tới 90% các trường hợp phẫu thuật không phải cấp cứu trong khoang miệng. 
Tại nhiều nơi trên thế giới tồn tại quan điểm cho rằng nên loại bỏ những chiếc răng  khôn sớm (từ khi còn trẻ) để dự phòng chúng gây ra những rắc rối về sau, tức là nhổ răng "dự phòng". 
Quan điểm này bị nhiều người phản bác, họ cho rằng không nên nhổ răng khôn nếu chúng không gây ra khó chịu nào, những người khác thì ngược lại, họ cho rằng loại bỏ răng khôn sau này sẽ khó hơn và nhiều nguy cơ gây biến chứng hơn.

Nếu có răng khôn đang mọc bạn chắc hẳn cũng phân vân trước những ý kiến trái ngược nhau của các chuyên gia. Những vấn đề chính sau đây bớt bối rối khi đưa ra quyết định loại bỏ chúng ra khỏi khoang miệng.

1. Các bệnh lý có thể gặp khi mọc răng khôn 

  • Viêm quanh răng (viêm nướu xung quanh thân răng) là chỉ định phổ biến cho phẫu thuật răng khôn. Biến chứng này xảy ra chủ yếu xảy ra ở thanh thiếu niên và người trẻ tuổi. Người lớn tuổi ít gặp hơn. Một số báo cáo cho thấy tỷ lệ viêm quanh thân răng khôn gặp khoảng 10% số trường hợp.
  • Gây sâu răng cối thứ hai (răng số 7). Số này ước tính khoảng dưới 5% số trường hợp. Tiêu chân răng này có thể gặp ở 1% số trường hợp.
  • Chen chúc vùng răng cửa. Quá trình mọc răng khôn có thể gây chèn ép cung răng dẫn đến chen chúc các răng cửa. Hiện tượng này nhiều bệnh nhân nhận thấy rõ kể từ khi họ biết rằng răng khôn đang mọc.
  • U nang răng khôn: điều này rất ít gặp và nó không được coi là chỉ định loại bỏ răng khôn dự phòng. Nguy cơ xuất hiện khối u ác tính phát sinh càng hiếm gặp hơn.

2. Những lý do phản đối việc loại bỏ răng khôn dự phòng

  • Nhổ răng khôn dự phòng là một thủ thuật tốn kém về kinh tế. Người ta thấy rằng người nghèo ít có cơ hội nhổ răng khôn dự phòng, họ chỉ nhổ răng khôn khi chúng gây biến chứng tới mức khó chịu. Nhổ răng dự phòng chỉ phù hợp với những người khá giả. Lý do này hàm ý về một sự phân biệt xã hội về chăm sóc sức khỏe răng miệng.
  • Những cuộc phẫu thuật loại bỏ răng khôn dự phòng dựa trên những bằng chứng mơ hồ: ví dụ răng khôn không có vai trò hữu ích trong miệng; chúng có thể làm tăng nguy cơ hoặc làm thay đổi bệnh lý; nếu đợi khi xuất hiện triệu chứng bệnh mới nhổ răng khôn thì bệnh nhân thường đã lớn tuổi và có nguy cơ lớn hơn bị các biến chứng nghiêm trọng sau phẫu thuật.

Do vậy, người ta cho rằng chỉ nhổ răng khôn dự phòng khi có bằng chứng rõ rằng về việc mang lại lợi ích thiết thực cho bệnh nhân.
3. Biến chứng thường gặp sau phẫu thuật loại bỏ răng khôn

Loại bỏ răng khôn không phải là một thủ thuật dễ ràng và luôn luôn suôn sẻ. Đôi khi chúng gây ra các phiền toái cho bệnh nhân sau phẫu thuật. Những rủi ro có thể gặp thường là:

  • Rối loạn cảm giác sau nhổ răng khôn. Phổ biến là tê bì vùng hàm dưới sau nhổ răng khôn hàm dưới. Rối loạn này có thể kéo dài nhiều tháng. Các báo cáo thống kê cho thấy tỷ lệ này dao động từ 0,5-20%. 
  • Viêm khô huyệt nhổ răng: Xương huyệt răng lộ ra, viêm, chảy máu và có mùi hôi kèm theo đau dữ dội.
  • Kẹt hàm, khó há miệng;
  • Xuất hiện khe hở với xoang hàm;
  • Thoát vị mỡ trong miệng;
  • Sang chấn răng 7 kế bên hoặc sang chấn xương hàm.

Kết luận: Nếu chúng ta đang phân vân có nên nhổ dự phòng răng khôn hay không thì hãy xác định xem đã có bằng chứng bệnh lý do nó gây ra hay chưa?
 

My photo

THIẾU RĂNG KHÔN

Hàm răng vĩnh viễn đầy đủ có 32 răng, đó là chuẩn mực trong mọi chẩn đón và điều trị răng miệng. Nhưng ở một số người răng khôn chỉ mọc một phần hoặc không xuất hiện. Việc thiếu răng không có ảnh hưởng gì tới răng miệng vầ sức khỏe nói chung không. Chúng ta hãy tìm hiểu lý do của việc này để có câu trả lời chính xác.
1.    Tuổi mọc răng khôn.
Cho đến 12-13 tuổi răng sữa được thay thế hoàn toàn bằng răng vĩnh viễn. Thời gian này răng số 7, tức là răng hàm cối thứ hai bắt đầu mọc. Răng khôn hay là răng số 8 mọc muộn hơn khi chúng ta đã ở tuổi trưởng thành. Nó thường xuất hiện vào 16 tuổi, phổ biến là từ 17 - 18 tuổi. Ở một số người chúng mọc sơm hơn từ khi 13 - 15 tuổi hoặc muộn hơn khi đã 35 - 40 tuổi. Từ 20 đến 27 tuổi là lứa tuổi mọc răng khôn nhiều nhất. Nếu sau 30 tuổi vẫn chưa có một chiếc răng khôn nào là có thể chúng không bao giờ mọc nữa.
Răng khôn cũng được hình thành tương tự những chiếc răng vĩnh viễn khác.  Đầu tiên, phần thân răng được hình thành, chân răng tiếp tục phát triển thêm vài năm nữa cả khi răng đã mọc. Cấu tạo răng khôn có khác biệt đôi chút so với những chiếc răng hàm khác. Thông thường chúng có số lượng ống tủy nhiều hơn và có độ cong đáng kể. 
2.    Những người thiếu răng khôn
Thiếu răng khôn là điều khá bình thường. Ngày nay có khoảng 5% số người không có mầm răng khôn, 20 - 25% số khác có mầm răng không mọc. Đó là một sựu tiến hóa. Tổ tiên của chúng ta cách đây vài chục nghìn năm có từ 36 chiếc răng trở lên. Điều này xuất phát từ cấu trúc xương hàm và chế độ ăn uống. Người cổ đại có bộ hàm lớn hơn để ăn thức ăn thô chưa qua chế biến. Người hiện đại ngày nay chỉ cần 28 răng. Sự thiếu hụt răng khôn không ảnh hưởng đến chức năng của cả hệ răng, thậm chí còn là may mắn vì tránh được các biến chứng do việc răng khôn mọc lệch.
3.    Nguyên nhân không mọc răng khôn

  • Kích thước xương hàm ngắn: điều này gây thiếu chỗ cho răng khôn mọc bình thường, do vậy chúng có thể mãi mãi nằm trong mô xương.
  • Khó mọc: Không có tiền thân răng sữa nên răng khôn khá khó khăn để phá vỡ mô xương. Vào tuổi trưởng thành xương hàm trở nên đặc hơn nên răng khôn mọc khó khăn hơn các răng khác. Mặt khác, khi mọc chúng thường đi kèm với cảm giác đau, viêm và khó chịu. Quá trình mọc răng có thể mất từ vài tuần đến hai năm, điều này đòi hỏi chúng ta cần kiên trì chờ đợi nếu chúng không gây phiền phức.
  • Răng nằm sai vị trí. Do không gian hạn chế, răng khôn thường nằm trong góc xương hàm, thân răng tựa vào các răng lân cận, từ đó làm dịch chuyển thân răng. Chúng gây ra tình trạng chen chúc. Nếu vấn đề này không được khắc phục kịp thời thì các răng bên cạnh có thể bị tổn thương.
  • Thiếu mầm răng khôn. Hoàn toàn không có các cấu trúc nguyên thủy của răng. Điều này có thể do một số yếu tố: di truyền, đặc điểm cấu trúc xương hàm, chủng tộc, vùng cư trú, v.v. Thiếu mầm răng khôn có ở khoảng 5% dân số và điều này được coi là bình thường.

4.    Làm gì nếu mọc răng khôn?
Bất kỳ thủ thuật phẫu thuật nào để loại bỏ răng khôn cũng có xâm lấn, vì vậy không phải ai cũng cần phải loại bỏ chúng. Răng khôn cần nhổ bỏ nếu quá trình mọc răng gây ảnh hưởng đến tình trạng của các răng khác và gây viêm. Nếu răng khôn mọc đúng vị trí  và không chèn ép lên các răng kế cận thì rất tốt cho hàm răng. Nếu không may một trong các răng hàm bị mất, răng khôn có thể đảm nhận một phần tải trọng ăn nhai, khi cần thiết nó có thể làm trụ đỡ cho các phục hình.

Khi răng khôn có biểu hiện gây biến chứng thì chúng ta nên nhổ sớm không nên trì hoãn lâu vì chúng gây các biến chứng phức tạp và việc nhổ bỏ có thể khó khăn hơn.

Tại Nha khoa Khánh Vân phẫu thuật nhổ răng khôn dao động từ 1-2,5 triệu đồng. Phẫu thuật cát lợi trùm răng khôn khoảng 500 nghìn đồng.

My photo

Nhổ răng có nên xem lịch âm không?

Sức khỏe con người liên quan với tuần trăng. Từ thời xa xưa các thầy thuốc đã biết cách điều trị bệnh hoặc chăm sóc sức khỏe phù hợp với chu kỳ hoạt động của mặt trăng.

Thủy triều lên xuống được cho là do sức hút của mặt trăng. Cơ thể người nước chiếm 70% cho thấy ảnh hưởng của mặt trăng là điều tất yếu. Trạng thái thể dịch cơ thể cũng như tốc độ tăng chiều cao, mức độ phân chia tế bào đều phụ thuộc vào tuần trăng. Cho đến nay tác động của ánh trăng đối với cơ thể được cho là khá phức tạp và chưa được biết hết. Như vậy sự hoạt động của mặt trăng là có ảnh hưởng tới tình trạng phẫu thuật của cơ thể, trong đó có nhổ răng.

Những ngày trăng tròn cả nam giới và phụ nữ đều bị tăng hoạt động. Ngày kéo dài hơn, nhiều người bị mất ngủ và gặp ác mộng. Có ý kiến cho rằng lúc này máu không đông tốt, mặc dù điều này vẫn chưa được khoa học chứng minh.

Những ngày đầu tháng, nguồn năng lượng của chúng ta ở mức thấp. Tâm trạng khá trì trệ, miễn dịch yếu, cơ thể nên được nghỉ ngơi hơn là chịu đựng các cuộc phẫu thuật.

Giai đoạn trăng mọc từ khoảng mồng 7 âm lịch lực hấp dẫn của mặt trăng tăng lên, trọng lượng cơ thể giảm chút ít, nội dịch phân bố đều khắp cơ thể. Đây là  thời điểm thuận lợi cho việc nhổ răng vì cơ thể tích lũy năng lượng, những tác động từ bên ngoài thuận lợi, các tổ chức hồi phục nhanh hơn.

Khoảng cuối tháng âm lịch, trăng lặn dần và có tác động đối với con người không mấy tích cực: tâm trạng u ám, thể lực giảm sút.  Khi đó các bệnh mãn tính có xu hướng nặng thêm, chúng ta không nên làm việc quá sức và cũng nên trì hoãn các can thiệp phẫu thuật theo kế hoạch,  lúc này quá trình hồi phục của cơ thể sẽ chậm hơn. 

Như vậy, nếu không thực sự vội vã chúng ta hãy nhổ răng vào giai đoạn trăng non khi trạng thái cơ thể tốt nhất, vết thương mau hồi phục.

My photo

RĂNG KHÔN

Hàm răng đầy đủ của người trưởng thành có 32 răng, chia làm 4 cung. Theo thứ tự từ trước ra sau là răng cửa giữa, răng cửa bên, răng nanh, 2 răng cối nhỏ và 3 răng cối lớn. Rất hiếm gặp người có răng cối thứ tư, những ca như vậy thường thấy hơn ở thổ dân Châu Úc. Răng khôn là răng thứ 8 của mỗi cung răng nên gọi là răng số 8. Răng khôn ở người không có mầm răng từ trước sinh như các răng khác mà muộn hơn từ 4-5 tuổi. Đây có lẽ là lý do để là tên gọi của chung vì khi mầm răng khôn xuất hiện thì các chức năng sinh lý thần kinh của con người đã gần hoàn thiện.

Nhiều người cho rằng răng khôn là cơ quan di tích giống như ruột thừa vì trong quá trình tiến hóa loài người đã dần dần ít ăn các loại thức ăn dai cứng, ủng hộ cho giả thuyết này là nhiều người không có răng khôn. Mặt khác, hình thể của thân răng và chân răng không phù hợp sinh lý như các răng cối lớn khác, răng khôn thường lạc chỗ, mọc ngầm, lệch.

Răng khôn hàm dưới khi mọc thường gây ra nhiều biến chứng, khi đó chúng ta chỉ nhìn thấy một phần thân răng, thường hình thành các túi mủ giữa phần lợi và thân răng, tức là viêm quanh thân răng, khi đó phải cắt lợi trùm, hiện tượng này nếu tái phát nhiều lần thì răng khôn có chỉ định nhổ.

Nhiều trường hợp xương hàm không đủ chỗ gây mọc lệch răng khôn. Răng khôn hàm trên thường lệch ra phía má, gây tổn thương niêm mạc má. Răng khôn hàm dưới thường gặp nhất là nghiêng về phía răng bên cạnh (răng số 7) gây kẹt thức ăn vào khe giữa 2 răng này. Do khó làm sạch được nên lâu ngày sẽ sâu răng số  7, hỏng men răng khôn. Viêm tổ chức mềm lân cận như viêm lợi, viêm quanh thân răng. Khi đó răng khôn cần được phẫu thuật loại bỏ.

Răng khôn mọc thẳng, có hình thái sinh lý phù hợp cũng có chức năng ăn nhai như các răng hàm cối lớn khác, có thể làm trụ cố định trong phục hình cầu răng hoặc làm tựa cho móc răng trong các phục hình tháo lắp.

My photo

KHI NÀO CẦN NHỔ RĂNG

1. Các trường hợp cần nhổ răng

Căn cứ vào các tiêu chí như sau bác sĩ chuyên khoa sẽ tư vấn răng của bạn có nên nhổ hay không

Răng bị gãy dọc;
Răng bị viêm nặng từ đó gây nhiễm khuẩn mủ như áp xe, viêm quanh răng;
Gãy ngang thân răng nhưng không điều trị nội nha được;
Nhổ răng theo kế hoạch trong các liệu trình điều trị khác;
Chân răng bị phá hủy đến mức không thể phục hồi để mang phục hình trên thân răng;
Răng lung lay độ ba theo phân loại của chuyên ngành;
Răng có cấu trúc ống tủy phức tạp không điều trị bảo tồn được;
Răng làm tổn thương niêm mạc miệng.
Răng số 8 khi mọc lệch gây nhiều biến chứng, nhất là răng 8 hàm dưới lệch nghiêng về phía răng bên cạnh làm tổn thương cả hai răng,nếu không được xử lý kịp thời có thể phải nhổ cả hai răng.

2. Các trường hợp chưa nên nhổ răng

Nhổ răng không có chống chỉ định tuyệt đối nhưng nhổ răng trong một số trường hợp việc nhổ răng được xem xét trì hoãn vào thời điểm thích hợp.

Người bệnh đang trong tình trạng nhiễm trùng toàn thân hoặc nhiễm trùng khoang miệng;
Răng nằm trên khối u ác tính;
Người đang có bệnh tim mạch;
Người đang có bệnh về máu;
Phụ nữ đang mang thai 3 tháng đầu hoặc 3 tháng cuối;
Răng sữa không nên nhổ khi không thấy mầm răng vĩnh viễn trên phim X quang.

3. Làm thế nào để tránh sợ hãi khi nhổ răng

Điều trị bệnh răng, đặc biệt đối với nhổ răng gây ra sự lo lắng và sợ hãi ở hầu hết  mọi người. Viinikangas (2007) cho thấy 32 % số người ở Anh, 23 % ở Đức và 20 % ở Phần Lan  đặc biệt lo sợ khi tới gặp nha sĩ. Lo sợ nha khoa liên quan tới thái độ né tránh hoặc từ chối của bệnh nhân. Điều này ảnh hưởng xấu tới chăm sóc sức khoẻ răng miệng.

Hầu hết bệnh nhân khi gặp bác sĩ nha khoa tư vấn là đủ cho việc trấn an tâm lý. Đối với những người quá sợ hãi các biện pháp điều trị hỗ trợ như thay đổi hành vi, giảm nhạy cảm, thôi miên và thư giãn sẽ giúp cho họ vượt qua sự sợ hãi.

Bệnh nhân có thể được dùng thuốc an thần trước khi nhổ răng. Ngày nay, khi tiến hành phẫu thuật các bác sĩ có thể nhờ sự trợ giúp của phương pháp an thần tỉnh. Phương pháp an thần tỉnh sử dụng các thuốc an thần đạt mức chuẩn độ an thần mong muốn để làm giảm tình trạng tỉnh táo, gây quên, giảm tình trạng lo sợ và hợp tác tốt nhưng bệnh nhân đảm bảo vẫn tự thở, có thể giao tiếp với bác sĩ trong lúc làm thao tác mà không bị biến loạn hô hấp và tuần hoàn trong lúc can thiệp.

Để thực hiện các phẫu thuật kéo dài như nhổ nhiều răng số 8 thì gây mê là phương pháp được ưu tiên lựa chọn với sự trợ giúp của các bác sĩ gây mê ở các cơ sở y tế có đủ điều kiện.

Nhổ răng 8 hàm trên từ 1-1,5 triệu đồng, hàm dưới từ 1,5-2,5 triệu đồng tại Nha khoa Khánh Vân